Nếu chọn chè theo tháng, có thể đi theo một vòng đơn giản: tháng mười hai đến tháng hai là chè nóng có gừng và chè khoai; tháng ba, tháng tư chuyển sang chè ấm nhẹ rồi chè mát khi miền Nam vào cao điểm nắng; tháng năm đến tháng tám là mùa chè đá, chè trái cây, chè hạt sen tươi; tháng chín đến tháng mười một là mùa thu với chè cốm, chè hồng, chè bưởi và chè ấm ngày mưa miền Trung. Mỗi miền lệch nhau một chút vì khí hậu khác nhau, nhưng logic chung là chọn món theo nhiệt độ và theo nguyên liệu đang vào vụ.
Bài này là lịch tổng hợp để bạn tra nhanh: tháng này ăn chè gì cho hợp, ở nhà nên nấu món nào, trái nào đang rẻ và ngon. Các tháng tính theo dương lịch, khí hậu mô tả ở mức khái quát; lịch các ngày lễ âm lịch và những mâm chè cúng không thuộc phạm vi bài này.
Ba thứ quyết định chè của mỗi tháng
Nhiệt độ và độ ẩm. Đây là yếu tố rõ nhất. Trời rét ăn chè nóng, sánh, có gừng; trời nóng ăn chè lỏng, nhiều thạch, có đá; trời nồm ẩm hay mưa dầm ăn chè ấm vừa. Miền Bắc có bốn mùa khá rõ, miền Nam có hai mùa mưa nắng, miền Trung có mùa mưa đến muộn, nên cùng một tháng, ba miền có thể cần ba kiểu chè khác nhau.
Nguyên liệu đang vào vụ. Trái cây, hạt sen tươi, bắp, khoai, cốm đều có mùa. Món chè làm từ nguyên liệu đúng vụ vừa ngon vừa dễ mua. Đậu khô, nếp, bột, đường thì có quanh năm, là phần nền ổn định của mọi mùa.
Nhịp sống trong năm. Sau Tết người ta ngấy đồ béo, thèm món thanh; mùa thi, mùa hè học sinh nghỉ thì quán chè đông khách trẻ; cuối năm bận rộn, chè nóng bán chạy buổi tối. Nhịp sống này ảnh hưởng tới chuyện ăn chè không kém thời tiết.
Lịch chè mười hai tháng
Bảng tóm tắt dưới đây ghi món tiêu biểu cho từng tháng. Đây là gợi ý, không phải luật; nhà nào cũng có món quen riêng.
| Tháng | Thời tiết chung | Chè hợp ở miền Bắc | Chè hợp ở miền Trung, miền Nam |
|---|---|---|---|
| 1 | Bắc rét, Nam khô mát | Chè trôi nước nóng, chè sắn gừng, chè bà cốt | Chè đậu, chè trôi nước; trái: bưởi, dâu tây Đà Lạt |
| 2 | Bắc bắt đầu nồm ẩm, thường trùng Tết | Chè thanh sau Tết: hạt sen, đậu xanh ấm | Chè hạt sen, chè đậu xanh, chè trái cây nhẹ |
| 3 | Bắc ấm dần, Nam nóng lên | Chè đậu đỏ ấm, chè khoai cuối mùa | Chè đá, xoài đầu mùa |
| 4 | Nam nắng gắt, Bắc chuyển hè | Chè đậu đen, chè thạch | Sương sáo, sương sa hột lựu, chè xoài |
| 5 | Bắc nóng, Nam mưa đầu mùa | Chè đậu đen đá, vải sớm, hạt sen đầu mùa | Chè chuối ấm, chè bắp, chè trái cây miền Tây |
| 6 | Nóng, mưa giông | Chè vải, chè hạt sen tươi | Chè sầu riêng, chè chôm chôm, chè Thái |
| 7 | Nóng ẩm, mưa nhiều | Chè sen nhãn tươi, chè dừa dầm | Chè Thái, chè bơ, chè đậu xanh đá |
| 8 | Mưa bão ở Bắc, mưa ở Nam | Chè nhãn, chè bơ, chè đậu ăn nguội | Chè bơ, chè đậu ấm ngày mưa |
| 9 | Bắc vào thu, Trung bắt đầu mưa | Chè cốm, chè hồng, chè bưởi | Huế: chè ăn ấm ngày mưa; Nam: chè bắp, chè đậu trắng |
| 10 | Bắc mát, Trung mưa lũ | Chè cốm, chè đậu xanh ấm, chè hạt sen khô long nhãn | Huế: chè khoai tía, chè đậu ván ấm |
| 11 | Bắc lạnh dần, Nam cuối mùa mưa | Chè khoai lang gừng, chè trôi nước | Chè khoai môn, chè bà ba ấm |
| 12 | Bắc rét, Nam gió bấc | Chè sắn gừng, chè bà cốt, chè con ông | Chè chuối nóng, chè trôi nước, chè bà ba |
Ở vùng cao như Lâm Đồng hay các tỉnh miền núi phía Bắc, trời mát gần như quanh năm vào buổi tối, nên chè nóng có mặt cả trong những tháng hè. Ở đồng bằng sông Cửu Long, mùa nước nổi vào khoảng tháng tám đến tháng mười một mang lại những nguyên liệu đặc trưng cho món mặn, còn chè thì vẫn xoay quanh đậu, chuối, khoai và nước cốt dừa.
Tháng giêng đến tháng ba: từ chè nóng sang chè thanh
Tháng một là cao điểm rét của miền Bắc, có những đợt rét đậm, rét hại. Chè nóng có gừng, chè nếp, chè sắn là thứ bán chạy nhất ở các gánh chè Hà Nội lẫn những tỉnh đồng bằng. Ở miền Nam, tháng một là mùa khô, trời mát buổi sáng tối, nắng ấm ban ngày; chè đá vẫn bán, chè nóng có thêm vào buổi tối. Đây cũng là mùa bưởi, cam quýt và dâu tây Đà Lạt.
Tháng hai thường trùng hoặc sát Tết Nguyên đán. Sau mấy ngày nhiều đồ béo, đồ chiên, thịt mỡ, người ta thèm món thanh: chè hạt sen, chè đậu xanh đánh, chè trái cây nhẹ. Đây là lúc nhiều nhà nấu chè ít ngọt hơn bình thường để cân lại những ngày ăn uống nhiều. Miền Bắc bắt đầu nồm ẩm, bếp chè cần chú ý giữ nguyên liệu khô.
Tháng hai cũng là lúc nhiều nhà còn thừa đồ khô sau Tết như đậu xanh, nếp, long nhãn, hạt sen. Tận dụng chúng cho những nồi chè nhỏ trong tháng là cách vừa đỡ phí vừa đúng nhịp ăn thanh sau những ngày cỗ bàn.
Tháng ba, miền Bắc ấm dần, chè nóng nhường chỗ cho chè ấm. Miền Nam bước vào những tháng nóng nhất trong năm, kéo dài tới khoảng tháng năm; xoài đầu mùa bắt đầu xuất hiện, các quán chè đá đông khách trở lại sau Tết.
Tháng tư đến tháng sáu: mùa chè đá và trái cây
Tháng tư là tháng nắng gắt ở Nam Bộ, cũng là thời điểm miền Bắc chuyển sang hè. Chè sương sáo, sương sa hột lựu, chè đậu đen đá, chè xoài là những món được gọi nhiều. Ở nhà, đây là lúc bắt đầu nấu chè để dành trong tủ lạnh: đậu, thạch, nước đường để riêng, ăn dần trong vài ngày.
Tháng năm và tháng sáu là đỉnh mùa trái cây. Vải thiều miền Bắc chín từ cuối tháng năm, đầu mùa sen cũng bắt đầu; miền Tây vào mùa sầu riêng, chôm chôm, măng cụt. Đây là quãng thời gian chè trái cây và chè Thái ngon nhất, cũng là lúc hạt sen tươi xuất hiện ở chợ Hà Nội, Huế.
Ở miền Nam, tháng năm cũng là lúc mưa đầu mùa. Những buổi chiều mưa bất chợt làm nhiều người chuyển từ ly chè đá sang chén chè chuối, chè bắp ấm. Quán chè miền Nam lúc này thường bán song song chè nóng và chè đá, tùy trời.
Tháng bảy đến tháng chín: nhãn, sen cuối mùa và chè thu
Tháng bảy, tháng tám là mùa nhãn ở miền Bắc, mùa bơ ở Tây Nguyên, sầu riêng Tây Nguyên bắt đầu chín muộn hơn miền Tây. Đây là dịp làm chè nhãn tươi, chè sen nhãn khi hạt sen cuối mùa vẫn còn, chè bơ không cần nấu. Trời nóng ẩm, mưa nhiều, nên chè cần được giữ lạnh kỹ, nấu lượng vừa ăn.
Đây cũng là quãng nghỉ hè của học sinh, các quán chè gần trường học vắng hơn nhưng quán ở khu dân cư, khu du lịch biển lại đông. Ở nhà, trẻ con nghỉ học là dịp để cả nhà cùng làm thạch, vo trân châu, bóc hạt sen, biến nồi chè thành một buổi chơi trong bếp.
Tháng chín, miền Bắc vào thu, trời hanh và mát dần. Đây là mùa cốm, và chè cốm, món nấu từ cốm non với đường và bột sắn dây cho sánh, là một trong những món chè mang tính mùa rõ nhất của người Bắc. Hồng giòn, hồng mềm, bưởi đầu vụ cũng bắt đầu bày nhiều ở chợ.
Cùng lúc ấy, miền Trung từ Huế trở vào bắt đầu mùa mưa. Những món chè quen của Huế như chè đậu ván, chè bắp, chè khoai tía chuyển sang ăn ấm trong những ngày mưa dầm. Miền Nam vẫn đang giữa mùa mưa, chè đậu trắng, chè bắp, chè chuối ấm là các món hợp buổi chiều.
Tháng mười đến tháng mười hai: trở lại chè nóng
Tháng mười, tháng mười một, miền Bắc chuyển lạnh dần, chè nóng trở lại các gánh chè: chè trôi nước, chè khoai lang gừng, chè đậu xanh ấm. Đây là mùa khoai vụ đông, mùa của những nồi chè khoai bùi, sánh. Miền Trung đang trong cao điểm mưa lũ, cần chuẩn bị nguyên liệu khô để nấu chè những ngày khó đi chợ.
Tháng mười hai, rét đã rõ ở miền Bắc, chè sắn gừng, chè bà cốt, chè con ông lên ngôi. Miền Nam kết thúc mùa mưa, bước vào mùa khô với những đợt gió bấc se lạnh về đêm, là lúc chè chuối nóng, chè bà ba, chè trôi nước chan nước cốt dừa được ưa chuộng ở các xe chè đêm.
Cuối năm cũng là lúc nhiều gia đình bận rộn, ít thời gian nấu chè cầu kỳ. Một nồi nước đường gừng nấu sẵn, một hộp đậu nấu chín, một túi viên trôi cấp đông là đủ để có chè nóng trong mười phút cho cả nhà vào những tối rét.
Dùng lịch chè cho gia đình và cho quán
Với gia đình, lịch chè giúp bếp đỡ lặp lại: mỗi tháng thử một hai món theo mùa, kết hợp với một món nền quen như chè đậu. Trẻ con được biết thêm món mới, người lớn được ăn trái đúng vụ, ngon và dễ mua. Có thể dán một tờ lịch món nhỏ trong bếp, đánh dấu những món cả nhà thích để năm sau làm lại.
Với quán chè, menu theo mùa là cách giữ khách quay lại: mỗi mùa có một vài món chỉ có trong quãng thời gian đó, như chè vải, chè sầu riêng, chè cốm, chè nóng gừng. Món theo mùa cũng giúp chủ quán dùng nguyên liệu đúng vụ, chất lượng ổn định hơn và ít phải dùng hương liệu. Cách lên menu và vận hành quán theo mùa có bài riêng trong danh mục mở quán chè của trang.
Điều quan trọng nhất là đừng biến lịch thành luật cứng. Có người mùa hè vẫn thích chè trôi nước nóng, có người mùa đông vẫn ăn chè đá; thời tiết từng năm cũng có năm lạnh muộn, năm nóng sớm. Lịch chỉ để gợi ý, còn chọn món vẫn nên dựa trên trời hôm nay và khẩu vị của người ăn.
Một cách dùng lịch hữu ích khác là để đi chợ: đầu tháng, nhìn bảng xem trái gì, củ gì đang vào vụ, lên danh sách nguyên liệu cho hai ba món chè trong tháng, mua đồ khô một lần, đồ tươi mua dần theo tuần. Bếp vừa gọn, vừa ít phải bỏ đi nguyên liệu hỏng vì mua thừa.
Câu hỏi thường gặp
Chè cốm ăn vào mùa nào?
Chè cốm gắn với mùa cốm non ở miền Bắc, thường vào mùa thu. Cốm non dẻo, thơm mùi lúa mới, nấu với đường và bột sắn dây cho sánh. Ngoài mùa vẫn có cốm khô hoặc cốm cấp đông, nhưng mùi thơm kém hơn cốm mới.
Sau Tết nên ăn chè gì cho nhẹ bụng?
Sau những ngày nhiều đồ béo, các món chè thanh như chè hạt sen, chè đậu xanh đánh, chè trái cây ít ngọt là lựa chọn dễ chịu. Nên nấu ít đường hơn thường ngày và ăn chén nhỏ, vì cơ thể vừa trải qua mấy ngày ăn uống nhiều.
Miền Nam có cần ăn chè theo mùa không?
Miền Nam nóng quanh năm nên chè đá luôn có chỗ. Nhưng mùa mưa và những đêm gió bấc cuối năm vẫn làm chè ấm được ưa chuộng hơn, và mùa trái cây miền Tây thì quyết định món chè trái cây ngon nhất. Ăn theo mùa ở miền Nam chủ yếu là theo mùa trái và mưa nắng.
Tháng nào là mùa chè trái cây ngon nhất?
Khoảng tháng năm đến tháng tám, khi vải, chôm chôm, sầu riêng, nhãn, bơ, xoài vào mùa ở các vùng trồng lớn. Lúc này trái thơm và ngọt tự nhiên, chè trái cây cần ít đường và ít hương liệu nhất. Mốc cụ thể từng năm có thể dịch sớm hay muộn.
Có nên ăn chè nóng vào mùa hè không?
Không có gì cấm. Người ăn đồ lạnh dễ đau bụng, người lớn tuổi hoặc những buổi tối trời mát vẫn hợp với chè ấm nhẹ, ít gừng, ít bột như chè đậu xanh, chè hạt sen. Giữa trưa nắng gắt thì chè nóng sánh dễ làm người ăn thấy bức bối hơn.
Lịch chè này có áp dụng cho vùng cao không?
Vùng cao như Đà Lạt, Sa Pa lạnh hơn đồng bằng, đặc biệt buổi tối, nên chè nóng xuất hiện gần như quanh năm. Nguyên liệu theo mùa thì tương tự, cộng thêm những thứ riêng của vùng như dâu tây, hồng. Nên điều chỉnh lịch theo nhiệt độ thực tế nơi mình sống.